“Dự án sản xuất khoai sắn” giúp các quốc gia khu vực Lan Thương - Mê Công giảm nghèo và chấn hưng
Thời gian phát hành:16:39, 8-04-2026
แหล่งข่าว:cri

Năm 2016, Cơ chế Hợp tác Lan Thương - Mê Công chính thức khởi động, sáu quốc gia Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Myanmar, Campuchia, Thái Lan lấy “Chung một dòng sông, vận mệnh gắn chặt” làm nguyện ước ban đầu, cùng tạo nên “Thập kỷ vàng” trong hợp tác tiểu vùng.

Mười năm qua, quy mô thương mại giữa sáu quốc gia tăng 150% so với lúc ban đầu khởi động cơ chế, hàng loạt dự án mang tính tiêu biểu như Đường sắt Trung - Lào, Đường cao tốc Phnom Penh - Sihanoukville, v.v., đã cho thấy hiệu quả nổi bật, tiếp thêm động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội của khu vực.

Trên phương diện hợp tác nông nghiệp, sáu quốc gia bắt tay xây dựng “Kế hoạch hành động Hợp tác Nông nghiệp Lan Thương - Mê Công”, trong đó dự án sản xuất khoai sắn là một phần quan trọng trong đó. Dự án này khởi động vào năm 2020, do Phòng Nghiên cứu Sản xuất sản phẩm nông nghiệp Viện Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc dẫn đầu thực hiện. Kỹ thuật của Trung Quốc không những giúp 5 quốc gia khu vực Lan Thương - Mê Công nâng cấp ngành công nghiệp khoai sắn, mà còn khiến vô số gia đình tăng thu nhập và làm giàu, được các tổ chức quốc tế uy tín như Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc, Quỹ Quốc tế về Phát triển Nông nghiệp Liên Hợp Quốc, v.v., đánh giá chung là “Án lệ tốt nhất trong giảm nghèo toàn cầu lần thứ 6”.

Năm quốc gia Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar, Thái Lan có điều kiện tự nhiên ưu đãi, là khu vực cốt lõi của khoai sắn trên toàn cầu. Tuy nhiên trong thời gian dài, một số vấn đề như chủng loại thoái hóa, kỹ thuật gia công yếu kém, chuỗi công nghiệp đứt đoạn, v.v., khiến ngành nghề làm giàu này luôn quanh quẩn ở trình độ thấp. 

Nghiên cứu viên Mộc Thái Hoa - người phụ trách “Dự án sản xuất khoai sắn” cho biết: “Khi thấy nông dân địa phương giữ khoai sắn đầy sân, nhưng do tỷ lệ làm ra bột thấp, ô nhiễm nghiêm trọng lại không kiếm được tiền, chúng tôi cảm thấy trách nhiệm to lớn”. Đối với vấn đề nút cổ chai - tỷ lệ chiết xuất tinh bột thấp, nhóm chuyên gia dự án thông qua ưu hóa hình dáng răng cưa và tốc độ vòng quay, phối hợp với kỹ thuật phân loại sàng lọc kiểu mới, tỷ lệ chiết xuất tinh bột ổn định tăng lên đến 94%, đồng thời giảm tiêu hao năng lượng trên 30%. Điều khiến mọi người chú ý là, nhóm chuyên gia tận dụng kỹ thuật, biến bã khoai sắn vốn là thứ bỏ đi thành bột dinh dưỡng giàu chất xơ, thậm chí tạo ra một loại vật liệu nano có giá trị cao nổi bật với độ bền, nhẹ, và khả năng phân hủy sinh học, được ứng dụng trong công nghiệp, y tế, môi trường và nông nghiệp.

Tại Việt Nam, nhóm chuyên gia dự án hợp tác với Viện Nghiên cứu và Phát triển Cây trồng Học viện Nông nghiệp Việt Nam cùng xây dựng “Nền tảng Nghiên cứu phát triển hợp tác khoai sắn”, nhằm vào hiện trạng kết cấu đơn nhất của sản phẩm gia công từ khoai sắn, tích cực giới thiệu sản phẩm mới, công nghệ mới, và trang thiết bị mới trong sản xuất khoai sắn, đề xuất hướng phát triển và kiến nghị hợp tác nghiên cứu trong tương lai, cung cấp sự hỗ trợ mạnh mẽ cho ngành công nghiệp khoai sắn của Việt Nam.

Tại Lào, trong thời kỳ đầu, do thiết bị của Trung Quốc xuất hiện vấn đề điện áp không ổn định, thao tác phức tạp, nhóm chuyên gia kỹ thuật tăng cường thiết bị ổn áp, biên soạn sổ tay hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Lào, đào tạo công nhân địa phương, thành công hóa giải vấn đề thiết bị không thích hợp với điều kiện ở địa phương.

Tính đến nay, dự án đã thúc đẩy trồng hơn 333 héc ta khoai sắn chất lượng cao tại Lào, hỗ trợ hoàn thành xây dựng 2 nhà máy sản xuất tinh bột, thúc đẩy 150 việc làm cho nông dân địa phương. Hằng tháng, nông dân trồng khoai sắn tăng thu nhập 200 NDT, công nhân doanh nghiệp tăng thu nhập 400 NDT, cuộc sống của rất nhiều hộ nông dân đã thay đổi hoàn toàn nhờ vào trồng khoai sắn chất lượng cao.

Nhóm chuyên gia dự án nhận thức sâu sắc rằng, chỉ có khiến nhân viên địa phương nắm vững kỹ thuật, mới có thể thực sự thoát khỏi “sự ỷ lại vào kỹ thuật”. Vì vậy, dự án đã tổ chức 4 cuộc hội thảo và lớp đào tạo quốc tế , đào tạo hơn 500 lượt nhân viên kỹ thuật các quốc gia Lan Thương - Mê Công. Tại Việt Nam, hai bên lấy tiếng Anh làm ngôn giữ giao tiếp; tại Lào, cộng đồng người Hoa tại Lào phát huy vai trò cầu nối, cung cấp phiên dịch và hỗ trợ điều phối công tác khác.

Dự án sản xuất khoai sắn khu vực Lan Thương - Mê Công đã thu hẹp khoảng cách lòng dân sáu quốc gia, thúc đẩy tin cậy lẫn nhau. Trong tương lai, nhóm chuyên gia kỹ thuật Trung Quốc có kế hoạch dốc sức thúc đẩy “Phương án Trung Quốc” có thể nhân rộng này đến các khu vực đang phát triển có diện tích rộng lớn hơn như châu Phi, Nam Á, v.v..

Biên tập:CAINI LUO

Xét duyệt lần lần một:YANLAN ZHANG

Xét duyệt lần lần hai:CAIHONG TANG

Xét duyệt lần lần ba:ZHIHONG HOU